Hát Dâng Lễ

(Trích ra từ http://www.calendi.com/thanhnhac/topic.asp?TOPIC_ID=6288)

Đề tài 1: Ý nghĩa của phần dâng của lễ

Đọc phần chia sẻ, chúng ta thấy bạn Thomas Aquinas Trầm Thiên Thu đã kể:

“Tại một nhà thờ thuộc giáo hạt Gia định, giáo phận Saigon, tôi thấy ca đoàn sử dụng bài Lời Thiêng (Lời thiêng dâng Chúa từ trong đáy tim âm thầm…) làm ca dâng lễ. Một số nhà thờ cũng đã và đang sử dụng bài này làm ca dâng lễ (sic!). Có lẽ do điệp khúc bài Lời Thiêng có câu “Bàn tay con nâng lên cao, dâng Chúa hết những ý nghĩ, dâng Chúa trót xác thân con…” nên họ cho đó là ca dâng lễ!

Thực ra bài Dâng về Mẹ là bài tôn kính và cầu nguyện với Đức Mẹ, bài Lời Thiêng chỉ nói lên tâm nguyện con người đối với Chúa và là dạng bài Ca nguyện. Giáo hội bớt khắt khe hơn trước nhưng không phải vì vậy mà tự do thái quá, không phải cứ thấy bài nào có chữ DÂNG là cứ “vô tư” sử dụng làm ca dâng lễ.”


Ở đây chúng ta không cần phải nói về bài hát “Dâng về Mẹ” vì ý nghĩa thật tỏ tường là bài hát này không thích hợp trong phần Dâng Lễ, kể cả cho phần dâng Lễ trong Thánh Lễ biệt kính Đức Mẹ. Nhưng còn bài "Lời Thiêng dâng Chúa từ trong đáy tim âm thầm" thì sao ?

Trước khi có câu trả lời, thiết tưởng chúng ta cần ôn lại những suy tư về phần Dâng Lễ này trong ý nghĩa toàn thể của Thánh Lễ là Hy Tế chúng ta cử hành dâng lên Thiên Chúa.

Linh mục Josef Jungmann, SJ trong The Mass of the Roman Rite (1986) đã cắt nghĩa như sau:

Kinh nguyện mà vị chủ tế đọc trên lễ vật mà cộng đoàn vừa dâng lên là:

Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất,
Chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con bánh này
là hoa màu ruộng đất và công lao của con người,
chúng con dâng lên Chúa để trở nên bánh trường sinh cho chúng con.

Lạy Chúa là Chúa Cả trời đất,
Chúc tụng Chúa đã rộng ban cho chúng con rượu này
là sản phẩm từ cây nho và công lao của con người, chúng con dâng lên Chúa để trở nên của uống thiêng liêng cho chúng con.


Trong kinh nguyện này, mặc dầu ngôn ngữ là nói về bánh và rượu nhưng ý nghĩ Thần học thật là rõ ràng: Chúng ta dâng lại cho Thiên Chúa những gì Ngài đã ban tặng cho chúng ta . Lời nguyện này mang ba ý nghĩa : Bánh và rượu là sản phẩm của trái đất này và do đó tượng trưng cho thế giới và đời sống của chúng ta . Bánh và rượu cũng tượng trưng cho công lao của con người, và chúng ta dâng lên Chúa để trở nên lương thực thiêng liêng nuôi sống chúng ta . Do đó của lễ chúng ta dâng lên Chúa trong phần Dâng lễ vật không chỉ có giới hạn theo nghĩa là chỉ có bánh và rượu, mà chúng ta còn phải “vượt qua nhũng sự vật hữu hình mà say mến những sự vô hình."

Đây cũng chính là cơ hội trong Thánh Lễ, để người tín hữu tập dâng chính mình . Cũng lưu ý là bản dịch Nghi Thức Thánh Lễ mới, trong phần dâng lễ đã thay thế "lễ vật" bằng "hy lễ" (Xin Chúa nhận hy lễ [sacrifice] bởi tay cha...).

Những hy lễ đó là:

Hy lễ của thời gian (time):
Thời gian là của Chúa . Chúa đã ban cho chúng ta cả đời người để sống nhưng có bao giờ chúng ta nghĩ phải dâng lại một phần thời gian này cho Chúa để đến gặp Ngài nói lời cám ơn, để ca tụng và tôn vinh Ngài.

Hy lễ của tài năng (talent):
Thiên Chúa ban cho chúng ta rất nhiều tài, nhưng chúng ta đã dùng biết bao khả năng đang có mà dâng lại cho Chúa .

Hy lễ của tài sản (treasure):
Tất cả mọi sự Chúa ban cho chúng ta, tiền bạc, vật chất của cải, để chúng ta hưởng. Chúng ta đã bới ra bao nhiêu phần dâng lại cho Chúa.

Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI cũng đã ca ngợi : ở nhiều nơi, không có hát nhưng mà cả nhà thờ giữ thinh lặng . Theo ngài, việc đúng nhất và có hiệu quả nhất là ta xem việc chuẩn bị lễ phẩm không phải chỉ là những việc làm bề ngoài nhưng là một tiến trình chính yếu của nội tâm. Đây chính là ý nghĩa của sự kết hiệp với Thiên Chúa mà ngài muốn nhấn mạnh. Chúng ta phải cần nhìn trong con người của chúng ta, xem chúng ta có thể là chính của lễ trong hy lễ của Ngôi Lời qua việc chúng ta được thông phần với hành động tự hiến mình lên Thiên Chúa của Chúa Giêsu hay không? Và rồi sự thinh lặng này không phải chỉ là khoảng thời gian chờ đợi bên ngoài, nhưng là chúng ta đang từ bỏ mình, dọn đường, đặt mình trước mặt Chúa, xin Ngài cho chúng ta được sẵn sàng để biến đổi . (The Spirit of the Liturgy, trang 210-211)

Những người chủ trương cắt nghĩa “ý chính của phần Dâng Lễ” là dâng bánh và rượu là thì quả là giới hạn vào hành động, không những không đi đúng với sự hướng dẫn của GH, mà còn làm nghèo nàn, thiệt thòi cho những ý nguyện của cả cộng đoàn dân Chúa tham dự Thánh Lễ .

ĐGH Benedictô XVI đã nói rất nặng lời: "Nếu những hành động khác biệt bên ngoài trở thành ý chính của phụng vụ, nếu phụng vụ mà giảm thành những tác động tổng quát, thì tự căn bản chúng ta đã hiểu sai cái "theo - drama" của phụng vụ mà thành ra như là làm trò hề vậy."

"If the various external actions become the essential in the liturgy, if the liturgy degenerates into general activity, then we have radically misunderstood the "theo-drama" of the liturgy and lapsed almost into parody." (TSOTL: trg 171-175)

Xin đưa ra một bằng chứng hướng dẫn cụ thể để chúng ta cùng hiểu thêm: Hội Đồng Giám Mục Hoa Kỳ năm 1972 đã ra văn kiện " Music In Catholic Worship", coi như là văn kiện chính thức về Thánh Nhạc trong toàn nước Hoa Kỳ. Và sau khi Qui Chế Tổng Quát Sách Lễ Roma (bản năm 1974) ban hành, nhiều Địa phận cũng đã có những chỉ thị riêng. Đây là nguyên văn bài Hướng Dẫn Về Ca Nhạc Trong Thánh Lễ về phần "Chuẩn Bị Lễ Phẩm của Giáo Phận Orange Hoa Kỳ, ban hành ngày 6 tháng 10, năm 2005 :

"Chuẩn Bị Lễ Phẩm


- Ca tiến lễ sẽ hát cùng một lúc và ca mừng các khía cạnh đời sống cộng đồng của việc tiến lễ.
- Dù hát hay dạo nhạc cũng phải kéo dài cho hết lúc tiến lễ và chuẩn bị bánh và rượu (trên bàn thờ).
- Trong Giáo Phận Orange Hoa Kỳ, có bốn chọn lựa cho bài Ca Dâng Lễ, cũng giống như Ca Nhập Lễ:
1) Điệp ca cùng với Thánh Vịnh ghi trong sách Graduale Romanum
2) Điệp ca theo mùa cùng với Thánh Vịnh trong sách Graduale Simplex.
3) Dùng một bài hát từ một bộ Điệp Ca hay Thánh Vịnh được công nhận bởi Hội Đồng Giám Mục Hoặc Giám Mục địa phương.
4) Dùng bản hát nào khác phù hợp được công nhận bởi Hội Đồng Giám Mục Hoặc Giám Mục địa phương.
- Bản văn có thể để ngợi ca dùng theo Mùa hoặc lấy từ ca tiến cấp của Sách Lễ Roma có
các câu Thánh Vịnh.
- Không cần nói về bánh rượu hay việc dâng của lễ.
- Nhạc khí, bài hát cộng đồng hoặc hòa nhạc có thể được dùng.
- Hát dâng lễ thì luôn luôn đi theo với việc tiến lễ và chuẩn bị lễ phẩm, ngay cả khi không
có việc tiến lễ đi nữa.


Đọc qua những hướng dẫn trên chúng ta thấy, GH đã nhấn mạnh và đặt ưu tiên hàng đầu cho những bài Thánh Vịnh, hay những Ca Khúc có nền tảng lời ca nguyên ngữ lấy từ Thánh Vịnh. Cả ba hướng dẫn 1,2,3 đều nói những bài Thánh Vịnh đã được chính GH soạn ra và chấp thuận cho dùng trong Thánh Lễ .

Xem như thế thì chúng ta có thể rất dễ dàng dùng những bài “Ca khúc Thánh Vịnh Đáp Ca” của ngày xưa mà các nhạc sĩ đã sáng tác, để hát trong phần Dâng Lễ này. Vì bây giờ, nếu những bài hát đáp ca này - nếu có lời ca không trung thành với bản dịch chính thức của GH - mà đem hát trong phần Thánh Vịnh Đáp Ca sau bài đọc I như trước, thì không còn đúng với chỉ thị của Giáo Hội nữa. Xin xem “Những câu hỏi và trả lời liên quan đến việc dệt nhạc cho Bộ Lễ KYRIE và Thánh Vịnh Đáp Ca” ở trang Thánh nhạc » Hướng Dẫn Mục Vụ của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam: http://www.hdgmvietnam.org/huong-dan-muc-vu.105.18.aspx

Và cũng xin đọc bài nghiên cứu rất công phu của nhạc sĩ Khổng Vĩnh Thành ở đây: http://www.calendi.com/thanhnhac/topic.asp?TOPIC_ID=6280

Mục đích GH muốn mọi nhạc sĩ dệt nhạc cho những bài Thánh Vịnh Đáp Ca phải đi theo sát với văn bản chính thức, không được thêm bớt hoặc thay đổi, vì GH muốn bảo vệ và lưu truyền sự đồng nhất của những bản văn Thánh Kinh chính thức đó, đang dùng trong phụng vụ. Thánh Vịnh Đáp Ca là một phần không thể thiếu sau bài đọc thứ I, trong phần Phụng Vụ Lời Chúa .

Trở lại phần nội dung trong những bài Thánh Vịnh mà GH đã soạn để dùng trong phần hát dâng của lễ (sách Graduale Romanum hay sách Graduale Simplex), thì ta thấy rất hiếm có những bài TV chỉ có nội dung là dâng bánh và rượu trong đó. Thánh Vịnh là những thi ca đã có từ thời Cựu Ước xa xưa, và trải qua mấy ngàn năm, GH vẫn luôn dùng những bài Thánh Vịnh này làm Thánh Ca để hát ca tụng Thiên Chúa trong các nghi thức phụng vụ. Những thi ca này đã có lời ca đầy cảm xúc, dạt dào với những tâm tình cầu nguyện, thống hối ăn năn, ca tụng ngợi khen tôn vinh và cậy trông vào Thiên Chúa .

Xin đọc thêm một đề tài tương tự mà tôi đã được hân hạnh đóng góp ý kiến trên diễn đàn Ca Trưởng : http://www.calendi.com/thanhnhac/topic.asp?TOPIC_ID=3241

Hoặc trên trang của Việt Catholic ở đây:
http://vietcatholic.org/News/Html/53088.htm

Đề Tài 2: Ý nghĩa của chữ Tạo Vật trong tiếng Việt Nam ngày nay .


Bạn Thomas Aquinas Trầm Thiên Thu đã viết và phê bình như sau:

“Về phần lời ca, như bài Con chỉ là tạo vật (Phanxicô) vẫn thấy các ca đoàn “vô tư” hát: Lạy Chúa, con chỉ là tạo vật… Chúng ta không thể là TẠO VẬT mà chỉ là THỤ TẠO, vì Tạo vật là Tạo hóa – tức Thiên Chúa, theo cách gọi của Công giáo. Ngữ nghĩa đã bị hiểu sai lệch, riết rồi quen, nhưng không lẽ cứ “quen” mãi một thói quen “lệch lạc” như vậy?”


Thật ra đây không phải bạn Thomas Aquinas Trầm Thiên Thu là người đầu tiên nói đến chữ “tạo vật” theo ý nghĩa này. Lm Stephanô Huỳnh Trụ, một học giả rành chữ Hán cũng đã đặt nặng vấn đề ý nghĩa của chữ này trong bài viết tựa đề “Tạo Vật: "Tạo Hoá" hay "vật thụ tạo" ?” đăng trên báo Thánh Nhạc Ngày Nay , số 29 tháng 1 năm 2008. Các bạn có thể đọc nguyên văn bài viết đó ở đây: http://www.calendi.com/thanhnhac/uploaded/trantrungtruc/TaoVat_LM_HuynhTru_s.pdf

Tôi cũng đã có dịp hân hạnh viết một bài nghiên cứu để chia sẻ và đóng góp ý kiến với Lm Stephanô Huỳnh Trụ. Trong đó, tôi đã đồng ý với ngài là chữ “Tạo Vật” nguyên ngữ là của chữ Tàu, nhưng tôi đã hoàn toàn không đồng ý với ngài về cách dùng chữ đó trong tiếng Việt Nam. Vì từ thời ông Nguyễn Trường Tộ, cách đây 130 năm đến nay, không có bằng chứng dùng chữ “Tạo Vật” mang ý nghĩa chỉ Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa đang còn được dùng trong văn hóa và tiếng Việt Nam nữa. Trái lại, tôi đã theo phương pháp nghiên cứu Mục Vụ (Method in Ministry) của hai ông bà Whiteheads để đi tìm những lần dùng chữ “tạo vật” trong văn chương Công Giáo Việt Nam.

Phương pháp này khuyên rằng khi ta đưa ra bất cứ những phán quyết gì liên quan đến những vấn đề Mục Vụ ngày nay, người ta phải dựa vào ba nguồn tài liệu chính. Đó là:

- Dựa vào các văn kiện nói về Truyền thống Kitô giáo
(Christian Tradition) chẳng hạn như các bản dịch Thánh Kinh, bản dịch các Văn Kiện của Giáo Hội .

- Dựa vào những kinh nghiệm cá nhân
(personal experience) bao gồm những suy tư, những chia sẻ của các nhà thần học và học giả đã có sử dụng danh từ đó để nói về những vấn đề của đạo và Giáo Hội hay không .

- Dựa vào những tài liệu văn hóa
( cultural resources) , những áp dụng thực tế tại giáo hội địa phương, hoặc nền văn hóa và xã hội địa phương .

Các bạn có thể đọc lại nguyên văn bài nghiên cứu đã được đăng ở đây:

-Trên trang web của Dũng Lạc Cao Tường: http://www.dunglac.org/index.php?m=home&v=detail&ia=3553

- Hoặc trên trang Diễn Đàn Ca Trưởng: http://www.calendi.com/thanhnhac/topic.asp?TOPIC_ID=3329

Xin được trích lại và tóm tắt sự cắt nghĩa của tôi trong bài viết dài đó:

Chữ "tạo vật" [trong tiếng Việt Nam chứ không phải chữ Hán trong tiếng Tàu] cũng đồng nghĩa với những chữ thụ tạo, thụ sinh, thọ sinh, tạo thành, ... Tất cả đều có nghĩa là vạn vật, vật thụ tạo hay những vật do Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa dựng nên . Những chữ này ngày nay đã được Giáo Hội Việt Nam chấp thuận cho xử dụng rất rộng rãi trong các bản dịch sách Thánh Kinh, các Văn Kiện Tín Lý và Thần Học của Giáo Hội, các bản dịch Lễ Nghi Phụng Vụ. Chữ tạo vật cũng được phép dùng trong những bài Thánh Ca, trong kinh sách của đạo Công Giáo, trong những bài giảng của các Đức Giám Mục, các vị Chủ Chăn hay trong những câu nói hàng ngày của mọi tín hữu, để chỉ những vật được Đấng Tạo Hóa dựng nên.

Ngày nay, chữ "tạo vật" đã trở thành tiếng Việt Nam thuần tuý, đến nỗi mọi người không những ở trong đạo Công Giáo mà ở ngoài xã hội địa phương và các tôn giáo bạn, đã quá quen thuộc, không còn ai muốn đặt thành vấn đề nữa. Vì ngoài những qui luật hình thành một ngôn ngữ như cú pháp (syntax) và dụng ngôn (pragmatic), từ ngữ nghĩa (semantic) của một chữ cũng đóng vai trò rất quan trọng. Vì khi một tập thể, một dân tộc đã cùng chấp nhận một chữ với ‎ý nghĩa (semantic structures) mà mọi người cùng hiểu, thì chữ đó đã trở thành ngôn ngữ của tập thể và dân tộc đó rồi. Nhất là những chữ đó đã được lưu dụng trong dân tộc đó qua nhiều thế hệ.

Hẳn nhiên chữ "tạo vật" cũng đã nằm trong loại hình thành của qui luật ngôn ngữ này .

Ngày 2 tháng 11 năm 2005, Ủy Ban Giáo Lý và Đức Tin thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã tái xác nhận những cho lưu hành "Hiến Chế Tín Lý Về Mạc Khải Của Thiên Chúa" (Dei Verbum) của Công Đồng Vatican II đã dịch. Đây là Hiến Chế quan trọng nhất nói về cốt tuỷ của đức tin Công Giáo, cắt nghĩa sự tương quan giữa Thiên Chúa và con người cùng các loài thụ tạo khác. Đọc toàn bản văn ta đếm được 5 lần dùng chữ "tạo vật" để chỉ những gì Thiên Chúa đã dựng nên . Ban hành bản dịch này Hội Đồng Giám Mục Việt Nam đã xác nhận là vẫn còn cho dùng những chữ "tạo vật"trong đó, không có gì là sai lầm cả.

"Của Thiên Chúa trả về cho Thiên Chúa ."
Thiên Chúa là Đấng Tạo Hóa, thật hoàn hảo, con người có dùng bất cứ ngôn từ và hình ảnh nào để mà ca tụng Ngài, cũng không phải để làm cho Ngài thêm hoàn hảo mà trái lại chỉ vì phần rỗi của chúng ta. Ý nghĩa trong ngôn ngữ mà mọi người Công Giáo Việt Nam vẫn dùng hai chữ "tạo vật" để nói về thân phận thấp hèn, hư vô, của mình trong mối tương quan với Thiên Chúa, thì nó đã trở thành một biểu tượng của ngôn ngữ để mọi người cùng hiểu và cùng dùng theo ‎ý nghĩa đó. Và khi chúng ta cùng cất lên câu kinh: "Lạy Chúa con chỉ là tạo vật" thì mọi người Việt Nam thuần túy đều hiểu là chúng ta đang đặt thân phận ‎yếu hèn của con người trước Đấng Tạo Hóa đầy quyền năng, và tuân phục Ngài là Thiên Chúa. Đây cũng chỉ là biểu tượng ngôn ngữ trong tiếng Việt Nam mà đại đa số người Việt đã chấp nhận, chứ không phải là vấn đề của Luân L‎‎ý, Tín L‎ý hay Thần Học mà phải nói đúng hay sai .

Thiết tưởng việc chúng ta vẫn dùng chữ "tạo vật" để chỉ mọi vật được Thiên Chúa dựng nên, không làm cho tín hữu Công Giáo Việt Nam thành "rối đạo". Trái lại, chính việc cắt nghĩa ngược lại, hay thay đổi không được xử dụng chữ "tạo vật" nữa càng làm cho mọi người thêm bối rối và có thể gây hậu quả tai hại không ít.

Cứ tưởng tượng ngày nay, có một ông trùm trong Ban Đại Diện đứng trong nhà thờ đọc lại lời này: "tạo vật là đấng nhân ái, công bằng, coi mọi người như con ... loài người là con của tạo vật ." Nếu không nói đó là câu văn viết bằng chữ Hán cổ văn của ông Nguyễn Trường Tộ năm 1864, thì chắc chắn mọi người sẽ cho ông trùm này là ... phạm thượng, nếu không muốn nói là ... bất bình thường rồi .


Kết Luận:


Xin một lần nữa được trích lại một phần những suy tư của tôi đã chia sẻ trong bài viết:

Ngày xưa khi đa số dân Việt Nam chỉ là những người dân chất phát bận rộn với công ăn việc làm không có thời giờ và cơ hội để được đi học, mà “các bậc đàn anh” vẫn còn phải “nghiên cứu, học hỏi một cách tường tận tinh tuý của Ngôn ngữ Việt, Văn Hoá Việt để làm lợi khí Truyền Đạo”, thì huống chi là ngày nay, trình độ hiểu biết của mọi người đã được phát triển vì học vấn, nhờ những phương tiện truyền thông và giáo dục đã tiến bộ không ngừng. Ngày xưa, một lời cha giảng, cha phán, có thể được kết luận ngay là “mầu nhiệm” phải tin, nhưng ngày nay những lời cắt nghĩa đó không còn là nhiệm mầu nữa vì nếu nói không đúng, sẽ bị đặt thành nghi vấn rất nhanh chóng qua phương tiện tìm kiến rất hiện đại của hệ thống máy móc điện toán bây giờ. Vì bổn phận truyền giáo và chăn dắt đàn chiên, các mục tử cũng phải luôn thăng tiến, học hỏi để có thể đáp ứng với mọi nhu cầu của hoàn cảnh mới.

Bổn phận của người tín hữu Công Giáo cũng vậy, đức tin, lòng mộ mến đạo và sự thông cảm bác ái với anh em sẽ càng phát triển khi chúng ta cởi mở tâm hồn và quảng đại với những chân trời hiểu biết khác. Kiến thức là những gì rất mênh mông, bao la như biển cả không phải chỉ có gói trọn trong một hai cuốn tự điển, một vài câu truyền tai, hay chỉ một bài báo, một quyển sách.

Điển hình như trong lãnh vực Thánh Ca, có những người tưởng mình có thể sửa đổi cái này, đề nghị cái kia, mà không hề nghĩ đến hậu quả của chính việc làm đó còn tai hại hơn là không cần phải thay đổi. Có những câu kinh, có những bài hát đã được Giáo Quyền tốn công, tốn sức kiểm duyệt và cho phép chuẩn ấn Imprimatur để hát trong phụng vụ, đã đi sâu vào lòng người Công Giáo Việt Nam, tự nhiên có người nào đó cho là sai Thần học, sai Tín l‎ý và đề nghị sửa đổi hay cấm đoán nó.

Phải chăng "Thần học" đã được định nghĩa là những suy nghĩ về Chúa để đưa mọi người đến với Chúa, chứ đâu có phải "Thần học" là tìm ra những l‎ý lẽ để ngăn cản không cho tín hữu được đến gần Chúa hơn.


ĐGH Benedictô XVI, trong cuốn The Spirit of the Liturgy đã so sánh phụng vụ như là một sự tiên đoán, một buổi tập dợt, một tiền đề cho đời sống sẽ tới sau này. Vì trong phụng vụ chúng ta sẽ cảm nghiệm trước đời sống được kết hiệp với Thiên Chúa. Phụng vụ cho ta niềm hy vọng để chúng ta được sống trước đời sống sẽ đến đó, đời sống thực sự, đời sống tự do mật thiết với thiên Chúa và hoàn toàn cởi mở với anh em.

Ngài còn cắt nghĩa thêm: sở dĩ Giáo Hội cần phải có những qui tắc và luật lệ vì Giáo Hội muốn bảo vệ quyền lợi và sự tự do sống đạo và tôn thờ Thiên Chúa của mọi tín hữu để họ không sợ bị những người khác ngăn cấm hoặc thay đổi. ( The Spirit of the Liturgy, translated by John Saward. (San Francissco: Ignatius Press, 2000) tr 207-216).

Đó mới chính là tinh thần của Phúc Âm vì Chúa Giêsu đến để đưa mọi người về với Thiên Chúa chứ Ngài đâu có nệ lề luật để đe dọa, ngăn cấm, hoặc cướp mất đi những quyền lợi của những người muốn được làm con Chúa, muốn tôn vinh ca tụng Ngài trong sự thánh thiện và hợp nhất với Giáo Hội của Ngài.

Trần Ngọc Đăng

www.artbyhao.com

  • Hits: 814